Bài đăng

Đang hiển thị bài đăng từ Tháng 10, 2018

VAI TRÒ CỦA HỢP ĐỒNG BOT TRÊN KHÍA CẠNH KINH TẾ

BOT có vai trò rất lớn trên khía cạnh kinh tế. Cụ thể, việc sử dụng nguồn tài chính từ khu vực tư nhân để tài trợ cho các dự án BOT đã cải thiện đáng kể hệ thống cơ sở hạ tầng cho Nhà nước, cải thiện an sinh xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Vai trò của hợp đồng BOT trên khía cạnh kinh tế có thể kể đến như: giảm sức ép về vốn đầu tư cho Ngân sách Nhà nước; phát huy năng lực của mọi thành phần kinh tế trong nước; xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng. (*) Giảm sức ép về vốn đầu tƣ cho Ngân sách Nhà nước Có thể nói, phát triển cơ sở hạ tầng là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu đối với bất cứ quốc gia nào trên thế giới, đặc biệt là đối với những nước có cơ sở hạ tầng kém như Việt Nam. Nhưng việc phát triển cơ sở hạ tầng này lại không hề đơn giản chút nào vì vốn đầu tư cho việc này thường là rất lớn và thời gian thu hồi vốn đối với các công trình lớn có thể lên đến hàng chục năm, đấy là chưa nói đến việc sinh lợi của dự án. Đối với một nước có nguồn vốn ngân sách luôn trong ...

ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA HỢP ĐỒNG BOT

Ưu điểm của hợp đồng BOT – Đối với các cá nhân, doanh nghiệp với vai trò là nhà đầu tư, khi ký kết  hợp đồng BOT  sẽ được hưởng rất nhiều sự ưu đãi của Nhà nước. Cụ thể, nhà đầu tư khi ký kết hợp đồng BOT sẽ được hưởng chính sách ưu đãi về thuế, ưu đãi về giá thuê đất… Bên cạnh đó, nhà đầu tư được Nhà nước đảm bảo đầu tư. Theo đó, tài sản của nhà đầu tư sẽ không bị quốc hữu hóa trừ trường hợp khẩn cấp, Nhà nước sẽ trưng dụng tài sản của nhà đầu tư nhưng Nhà nước vẫn bảo đảm thanh toán hoặc bồi thường tài sản và vốn của nhà đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư 2005 hoặc theo các điều kiện khác thỏa thuận tại hợp đồng dự án. Chính những ưu đãi này trở thành những nhân tố khích lệ, thúc đẩy nhà đầu tư tham gia ký kết thực hiện hợp đồng BOT. – Hợp đồng BOT thường là những hợp đồng xây dựng cầu cống, sân bay, đường hầm, các công trình về điện… Những công trình này cần số vốn rất lớn. Chính vì vậy, rủi ro của những dự án này cũng rất lớn. Hình thức hợp đồng BOT ra đời đã giúp N...

ĐẶC ĐIỂM CỦA HỢP ĐỒNG BOT TẠI VIỆT NAM

Hợp đồng BOT ở Việt Nam là hợp đồng vừa mang đặc điểm của hợp đồng thương mại nói chung, vừa có những đặc trưng riêng của nó Hợp đồng BOT mang các đặc điểm của hợp đồng thương mại Hợp đồng BOT là một hình thức của hợp đồng thương mại. Vì vậy, tất cả các đặc điểm của hợp đồng thương mại cũng được hiểu là đặc điểm của hợp đồng BOT hay nói cách khác dù hợp đồng BOT có là một dạng đặc biệt của hợp đồng thương mại hay tồn tại một cách độc lập trong hệ thống pháp luật hợp đồng thì hợp đồng BOT vẫn mang toàn bộ đặc điểm thông thường mà trước hết nó là sự thể hiện ý chí tự do của các bên tham gia ký kết hợp đồng. Cụ thể, các đặc điểm chung của hợp đồng BOT so với hợp đồng thương mại khác là – Thứ nhất, so với các hợp đồng thương mại khác với mục đích huy động vốn từ khu vực tư nhân như hợp đồng BT, BTO thì các hợp đồng này đều nhằm thực hiện xây dựng cơ sở hạ tầng vốn thuộc trách nhiệm của Nhà nước và Nhà nước tham gia vào các hợp đồng này với tư cách là một chủ thể đặc biệt tham gia hợ...

KHÁI NIỆM HỢP ĐỒNG BOT TẠI VIỆT NAM

Nguồn gốc hợp đồng BOT Cũng giống như trên thế giới, hợp đồng tại Việt Nam xuất hiện ngay từ khi con người có sự phân công lao động, với hình thức sơ khai là bản giao kèo bằng miệng từ thời kỳ công xã nguyên thủy. Trải qua thời gian, pháp luật về hợp đồng ngày càng được hoàn thiện, hòa nhịp cùng sự phát triển với pháp luật về  hợp đồng BOT  trên thế giới Hợp đồng BOT dựa chủ yếu trên nguồn vốn tư nhân cho nên nhắc đến nguồn gốc hợp đồng BOT không thể không nhắc đến tiến trình lịch sử của Việt Nam trong việc công nhận lĩnh vực kinh tế tư nhân là một thành phần không thể tách rời trong nền kinh tế đất nước. Trở lại với lịch sử, năm 1945, nước Việt Nam mới được thành lập, với kế hoạch phát triển, với định hướng Xã hội chủ nghĩa. Khi đó, Việt Nam phải đối mặt với cả thù trong giặc ngoài, Nhà nước ta đã phải định hướng phát triển kinh tế theo hướng tập trung, bao cấp. Chính sách đó kéo dài đến những thập kỷ 80 của thế kỷ trước, ngay cả khi Việt Nam đã hòa bình, thống nhất đất ...

ĐỊNH NGHĨA HỢP ĐỒNG BOT

Hợp đồng BOT  thường gắn liền với việc xây dựng cơ sở hạ tầng. Vì vậy, định nghĩa hợp đồng BOT trên thế giới cũng gắn liền với định nghĩa cơ sở hạ tầng. Liên quan đến định nghĩa cơ sở hạ tầng, trên thế giới, khái niệm cơ sở hạ tầng được coi là việc cung cấp các tiện ích, dịch vụ thiết yếu, phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất hàng ngày của mọi người dân cũng như các nhà sản xuất, nhà kinh doanh. Các cơ sở hạ tầng có thể kể ra như nhà máy điện, nguồn cung cấp nước, việc xử lý nước thải… cũng như các công trình kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng như đường giao thông, cầu cống, sân bay… BOT có thể hiểu là viết tắt của 3 từ build, operate, transfer (kinh doanh, xây dựng, chuyển giao) là một phương thức huy động vốn từ nhà đầu tư tư nhân. Trên thế giới, hợp đồng BOT được định nghĩa là hợp đồng với mô hình sử dụng vốn từ khu vực tư nhân để thực hiện việc xây dựng cơ sở hạ tầng vốn dĩ vẫn được dành riêng cho khu vực Nhà nước . Điều này làm giảm gánh nặng cho cán cân ngân sách q...

NGUỒN GỐC CỦA HỢP ĐỒNG BOT

Trên thế giới, hợp đồng đã xuất hiện từ rất lâu, ngay từ khi có sự phân công lao động và xuất hiện hình thức trao đổi hàng hóa. Nhờ hợp đồng mà loài người đã đảm bảo được quan hệ trao đổi, mua bán tài sản, đồng thời cổ xúy, thúc đẩy được sự vận động, lưu thông của hàng hóa, tiền tệ. Hợp đồng được coi là một cam kết thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên (pháp nhân) để làm hoặc không làm một việc nào đó trong khuôn khổ pháp luật. Cùng với thời gian thì pháp luật quy định về hợp đồng ngày càng phát triển một cách tích cực. Theo đó, sự ràng buộc các bên trong hợp đồng ngày càng chặt chẽ và cụ thể hơn. Trên thế giới hợp đồng được phân ra thành nhiều loại khác nhau như: hợp đồng lao động, hợp đồng thương mại, hợp đồng bảo hiểm… Hợp đồng BOT  (xây dựng-kinh doanh-chuyển giao) ra đời muộn hơn so với các loại hợp đồng khác. Hợp đồng BOT mang đầy đủ bản chất của một hợp đồng thông thường bên cạnh những đặc thù riêng của nó. Trên thế giới, hợp đồng BOT được sinh ra với mục đích huy động nguồn...

VAI TRÒ TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ CỦA DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP TƯ NHÂN

Vai trò tích cực của doanh nghiệp công nghiệp tư nhân: Kể từ khi đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế nói chung và ngành công nghiệp nói riêng, trong đó có sự đóng góp quan trọng của khối DNCNTN. Vai trò của các DN công nghiệp tư nhân thể hiện ở các khía cạnh sau đây: – DNCNTN là nơi trực tiếp sản xuất một khối lượng sản phẩm tương đối lớn đáp ứng cho nhu cầu của xã hội, làm giảm bớt áp lực cầu của thị trường, đồng thời đóng góp vào Ngân sách Nhà nước.  – DNCNTN là khu vực có khả năng khai thác và thu hút vốn trong dân, đây là nguồn vốn còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển công nghiệp tư nhân mới có thể khai thác tối đa các tiềm năng của xã hội cho đầu tư phát triển. – DNCNTN góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, gia tăng thu nhập quốc dân, tăng giá trị xuất khẩu. – Trong quá trình mở cửa nền kinh tế, từng bước hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới, các DNCNTN có thể th...

KINH NGHIỆM VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở 1 SỐ NƯỚC (P3)

Kinh nghiệm của các nước Châu á khác Theo mô hình Nhật Bản, đa số các nước đang phát triển Châu á đều khởi động quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của mình từ việc đẩy mạnh xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực với hàm lượng chế biến tăng dần. Năm 1960, nhiên liệu, khoáng sản kim loại và các sản phẩm sơ chế chiếm tới 100% tổng xuất khẩu của Inđônêxia, 99% của Mianma, 98% của Thái Lan, 96% của Philippin, 94% của Malaixia, 86% của Hàn Quốc, 74% của Singapore và 55% của ấn Độ; thì đến năm 1970 tỷ lệ này của các nước giảm xuống lần lượt còn: 97%, 97%, 74%, 65%, 82%, 11%, 49% và 39%. Đến thập kỷ 90, cơ cấu xuất khẩu của các nước này đã có những chuyển biến căn bản: đa dạng hơn giảm hẳn hàng hóa nguyên liệu và nông sản, tăng nhanh hàng công nghiệp có hàm lượng khoa học và chế biến cao. Chẳng hạn hàng sơ chế và nông sản của Malaixia chỉ còn chiếm 20,4% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 1995; của Thái Lan 17,4% (năm 1994). Mỗi nước tập trung phát triển 5-10 mặt hàng chủ lực. Năm 1975, 5 mặt hàng xuấ...

KINH NGHIỆM VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở 1 SỐ NƯỚC (P2)

Kinh nghiệm của Nhật Bản Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Nhật Bản lựa chọn phát triển các ngành, sản phẩm chủ lực chế biến sâu, hướng về xuất khẩu, thích hợp với nhu cầu thị trường thế giới và lợi thế so sánh của Nhật Bản: Thoạt đầu, nhật lựa chọn các ngành sợi tổng hợp, hóa dầu, luyện thép và điện tử rồi chuyển dần trọng tâm sang các ngành cơ khí chế tạo ô tô, máy móc, thiết bị điện tử sinh hoạt và rô bốt. Đồng thời với việc lựa chọn phát triển các ngành chủ lực, chuyển dịch cơ cấu vĩ mô và vi mô diễn ra như sau: Chính phủ Nhật giữ vai trò quan trọng trong khơi thông thị trường quốc tế bằng các hiệp định liên Chính phủ và cấp các khoản ODA cho các nước tiềm năng, tăng cường cung cấp thông tin thị trường, giảm dần sự kiểm soát, can thiệp trực tiếp của Chính phủ, đồng thời đã sử dụng các chính sách hỗ trợ sau: – Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp và sản phẩm xuất khẩu: Chính phủ tích cực chỉ đạo các ngân hàng cấp ưu đãi thuế, tín dụng cho doanh nghiệp, gi...

ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ – XÃ HỘI VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

Thái Nguyên là một tỉnh thuộc miền núi và Trung du Bắc Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Bắc Kạn, phía Đông Nam giáp tỉnh Bắc Giang, phía Đông Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Nam giáp Thủ đô Hà Nội, phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Tây Nam giáp tỉnh Vĩnh Phúc. ở vị trí này, Thái Nguyên là điểm tiếp giáp, là cầu nối giữa đồng bằng châu thổ sông Hồng với các tỉnh vùng núi phía Bắc. Vì vậy, về mặt quân sự, Thái Nguyên vừa là cửa ngõ đi vào vùng Việt Bắc, vừa là lá chắn, “là phên dậu của kinh thành Thăng Long”. Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, Thái Nguyên là tỉnh nằm trong căn cứ địa cách mạng Việt Bắc. Trong kháng chiến chống Pháp, Thái Nguyên trở thành thủ đô kháng chiến của cả nước. Từ năm 1956 đến năm 1976, Thái Nguyên là thủ phủ của khu tự trị Việt Bắc. Xuất phát từ yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thực hiện Nghị quyết ngày 21/4/1965 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tỉnh Thái Nguyên hợp nhất với tỉnh Bắc Kạn thành tỉnh Bắc Thái. Ngày 29/2/197...