CÁC HÌNH THỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Các qui phạm pháp luật rất phong phú, đồng thời chúng cũng xác định quyền, nghĩa vụ thực hiện đối với các chủ thể khác nhau, vì thế hình thức thực hiện chúng cũng rất đa dạng. Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật, theo Tài liệu học tập và nghiên cứu môn học Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật (Tập 1) của Khoa Nhà nước  và pháp luật thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của Khoa Luật của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật của trường Đại học Luật Hà Nội đều cho rằng có bốn hình thức thực hiện pháp luật nhằm mục đích chuyển tải các qui phạm pháp luật vào cuộc sống thực tiễn, đó là:
Tuân theo (tuân thủ) pháp luật (xử sự thụ động) là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luật ngăn cấm. Những quy định pháp luật cấm trong luật hình sự, hành chính được thực hiện dưới hình thức này.
Trong lĩnh vực thi hành án dân sự, hình thức thực hiện này cũng được sử dụng khá phổ biến, đó là các qui định ngăn cấm chủ thể thi hành án dân sự không được làm. Ví dụ: Điều 304, Bộ luật Hình sự 1999 quy định “Người nào cố ý không chấp hành bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. Trong trường hợp nếu người phải thi hành án cố tình không chấp hành bản án là vi phạm pháp luật thi hành án dân sự.
Thi hành (chấp hành) pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực. Những qui phạm pháp luật bắt buộc (những quy định nghĩa vụ phải thực hiện những hành vi tích cực nhất định) được thực hiện ở hình thức này. Ví dụ, khoản 1, Điều 14, Pháp lệnh Thi hành án dân sự qui định về nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên đó là “Thi hành đúng nội dung bản án, quyết định của Toà án; áp dụng đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thi hành án, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự”.
Thi hành pháp luật thi hành án dân sự được thể hiện ở chỗ các chủ thể thi hành pháp luật thi hành án dân sự thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực, đó có thể là cơ quan thi hành án dân sự chủ động tổ chức thi hành án. Sau khi bản án, quyết định có hiệu lực, cơ quan thi hành án sẽ căn cứ vào nội dung của bản án, quyết định (trường hợp cơ quan thi hành án chủ động thi hành án), căn cứ vào đơn yêu cầu thi hành án và bản án, quyết định (trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu của người được thi hành án, người phải thi hành án) để thi hành án. Cơ quan thi hành án có trách nhiệm tổ chức thi hành đúng 
nội dung của bản án, quyết định; người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án phải nghiêm chỉnh thi hành, các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang và cá nhân tôn trọng [59]. Chính vì vậy, ở đây thể hiện rất rõ tính chấp hành trong hoạt động thi hành án dân sự. Đồng thời, chấp hành viên với tư cách là người được Nhà nước trao quyền và chịu trách nhiệm chính, trong quá trình tổ chức thi hành án, chấp hành viên căn cứ vào các quy định của pháp luật về thi hành án chủ động phối hợp với các cơ quan hữu quan để giải quyết các vấn đề có liên quan đến thi hành án. Đặc biệt, trong nhiều trường hợp chấp hành viên còn chịu trách nhiệm và điều hành cả các thành viên thuộc các cơ quan, tổ chức khác có tham gia vào quá trình thi hành án. Ví dụ: làm Chủ tịch Hội đồng cưỡng chế, Chủ tịch Hội đồng định giá tài sản, tiêu hủy tài sản…
Mặt khác, hầu hết các hoạt động thi hành án đều hướng đến việc thực hiện các nghĩa vụ về tài sản, trực tiếp tác động đến tài sản của các đương sự. Theo quy định tại Điều 1 và Điều 2 Pháp lệnh Thi hành án dân sự, thì cơ quan thi hành án chịu trách nhiệm tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế; bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; quyết định về dân sự, phạt tiền, tịch thu tài sản, xử lý vật chứng, tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí trong bản án, quyết định của Tòa án về hình sự; quyết định về phần tài sản trong bản án, quyết định về hành chính; quyết định tuyên bố phá sản, quyết định của Trọng tài thương mại Việt Nam và bản án, quyết định khác do pháp luật quy định. Như vậy, có thể thấy mọi hoạt động của cơ quan thi hành án đều nhằm tới việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ liên quan đến tài sản theo nội dung quyết định của bản án, quyết định của Tòa án – kết quả của hoạt động tư pháp. Trừ duy nhất một trường hợp là cơ quan thi hành án tổ chức thi hành nghĩa vụ liên quan đến nhân thân đó là tổ chức cưỡng chế cấm hoặc buộc người phải thi hành án không làm hoặc làm công việc nhất định. Người thi hành án tự nguyện thi hành án…
Sử dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình (thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép). Hình thức này khác với hình thức tuân thủ pháp luật và thi hành pháp luật ở chỗ chủ thể có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý chí của mình, chứ  Trong thi hành án dân sự, việc sử dụng pháp luật thi hành án dân sự thể hiện ở chỗ, các chủ thể pháp luật thực hiện pháp luật thi hành án theo ý chí của mình trong việc thi hành án, đó có thể là Cơ quan thi hành án chủ động quyết định thi hành án (án phí, lệ phí Tòa án, trả lại tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án; hình phạt tiền; tịch thu tài sản, truy thu thuế, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính; xử lý vật chứng, tài sản đã thu giữ; thu hồi đất theo quyết định của Tòa án; quyết định khẩn cấp tạm thời của Tòa án); người được thi hành án và người phải thi hành yêu cầu co quan thi hành án thi hành án. Cơ quan thi hành án chỉ tổ chức thi hành án trên cơ sở yêu cầu thi hành án của người được thi hành án và người phải thi hành. Cơ quan thi hành án chỉ ra quyết định trong phạm vi yêu cầu của người được thi hành án, người phải thi hành án. Đồng thời, người được thi hành án có quyền yêu cầu không thi hành án, hoặc cho người phải thi hành án hoãn việc thi hành án; thỏa thuận với người phải thi hành án về phương thức, địa điểm thi hành án.không bị ép buộc phải thực hiện. Ví dụ: Pháp luật qui định công dân có quyền khiếu nại và tố cáo. Một công dân biết một người nào đó có hành vi vi phạm pháp luật, nhưng công dân ấy có thể tố cáo (hoặc không tố cáo) với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Như vậy công dân đó đã sử dụng (hoặc không sử dụng) pháp luật (quyền được tố cáo).
Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó Nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể. Trong trường hợp này các chủ thể thực hiện pháp luật thực hiện các qui định của pháp luật có sự can thiệp của Nhà nước. Ví dụ: Nhà nước qui định cá nhân, tổ chức kinh doanh những ngành, nghề mà theo qui định của pháp luật phải nộp thuế thì phải có nghĩa vụ nộp thuế. Nếu cá nhân, tổ chức kinh doanh đó không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của mình, thì Nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền sẽ áp dụng pháp luật, ra quyết định cưỡng chế bắt buộc cá nhân, tổ chức đó phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của mình.
Trong áp dụng pháp luật thi hành án dân sự, tính chủ động trong hoạt động tác nghiệp của chấp hành viên được đề cao. Chấp hành viên căn cứ vào các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, căn cứ vào tình hình thực tế của vụ việc để lựa chọn các biện pháp thi hành phù hợp. Ví dụ, vụ việc đơn giản, ý thức chấp hành pháp luật của người phải thi hành án tốt, thì 
chấp hành viên lựa chọn biện pháp giáo dục, thuyết phục người phải thi hành án tự nguyện thi hành các nghĩa vụ của mình theo đúng phán quyết của Tòa án hoặc của Trọng tài thương mại (trường hợp người được thi hành án yêu cầu người phải thi hành án thi hành toàn bộ các nghĩa vụ theo quyết định của bản án, quyết định của Tòa án). Ngược lại, nếu sau khi xác minh thấy đương sự có điều kiện để thi hành án, nhưng xét thấy người phải thi hành án ý thức chấp hành pháp luật không tốt, có biểu hiện tẩu tán tài sản, hoặc cố tình chây ỳ không tự nguyện thi hành án, thì chấp hành viên lựa chọn, áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế được quy định trong Pháp lệnh Thi hành án dân sự (khấu trừ tài khoản, trừ vào tiền, thu hồi giấy có giá của người phải thi hành án; trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; phong tỏa tài khoản, tài sản của người phải thi hành án tại ngân hàng, tổ chức tín dụng, kho bạc; kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án kể cả tài sản của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ; buộc giao nhà, chuyển quyền sử dụng đất hoặc giao vật, tài sản khác; cấm hoặc buộc người phải thi hành án không làm hoặc làm công việc nhất định) để tổ chức thi hành dứt điểm bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định của Trọng tài thương mại.
Như vậy, thì thực hiện pháp luật được thực hiện thông qua bốn hình thức: tuân theo pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật. Tuy nhiên, hình thức áp dụng pháp luật có sự khác biệt với các hình thức tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật. Sự khác biệt này thể hiện ở chỗ, nếu như tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật là những hình thức mà mọi chủ thể thực hiện pháp luật đều có thể thực hiện thì áp dụng pháp luật là hình thức luôn luôn có sự tham gia của Nhà nước, thông qua các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền.
Xem thêm :

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Nhà để xe thông minh liệu có chịu được thời tiết lạnh khắc nghiệt -50 độ C?

Cách chọn bàn ghế ban công - Gợi ý các mẫu xu hướng 2025

Bàn ghế văn phòng Nội Thất 190 xu hướng mới năm 2025